CHUYÊN MỤC

Bộ Thủ tục hành chính công
Quy hoạch - kế hoạch
Thông tin tuyên truyền
Làm theo lời Bác
Góp ý cá nhân, tổ chức
Hỏi đáp
Lịch công tác

thông tin tuyên truyền tháng 5/2019

Ngày đăng bài: 20/05/2019
Ngày 09/5/2019 Phòng Tư pháp thành phố ban hành văn bản 125/TP về việc cung cấp đề cương tuyên truyền tháng 5/2019 về Luật trưng cầu ý dân

UBND THÀNH PHỐ PLEIKU
  PHÒNG TƯ PHÁP
 
ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN
 LUẬT TRƯNG CẦU Ý DÂN
 
Luật trưng cầu ý dân (sau đây gọi tắt là Luật) được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25/11/2015; Luật được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 08/12/2015 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016 
I. BỐ CỤC CỦA LUẬT
Luật gồm 8 chương, 52 Điều:
- Chương I gồm 13 điều (từ Điều 1 đến Điều 13) quy định về phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; giải thích từ ngữ; nguyên tắc trưng cầu ý dân; người có quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân; các vấn đề trưng cầu ý dân; phạm vi tổ chức, ngày bỏ phiếu, các trường hợp không tổ chức trưng cầu ý dân; giám sát việc tổ chức trưng cầu ý dân; hiệu lực của kết quả trưng cầu ý dân; kinh phí tổ chức và các hành vi bị nghiêm cấm.
- Chương II gồm 4 điều (từ Điều 14 đến Điều 17) quy định về đề nghị trưng cầu ý dân; về thẩm tra, xem xét, cho ý kiến về đề nghị trưng cầu ý dân; việc Quốc hội xem xét, quyết định việc trưng cầu ý dân.
- Chương III gồm 6 điều (từ Điều 18 đến Điều 23) quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc tổ chức trưng cầu ý dân; việc thành lập các Tổ trưng cầu ý dân; cơ quan giúp việc và việc trưng tập cán bộ, công chức, viên chức trong trưng cầu ý dân và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang Nhân dân và Nhân dân trong việc tổ chức trưng cầu ý dân.
- Chương IV gồm 7 điều (từ Điều 24 đến Điều 30) quy định về nguyên tắc lập danh sách cử tri; các trường hợp không được ghi tên, bị xóa tên, được bổ sung tên vào danh sách cử tri; thẩm quyền lập danh sách, việc niêm yết danh sách, khiếu nại và giải quyết khiếu nại về danh sách cử tri; việc cử tri bỏ phiếu nơi khác và quy định về khu vực bỏ phiếu trưng cầu ý dân.
- Chương V gồm 4 điều (từ Điều 31 đến Điều 34) quy định về mục đích, nguyên tắc, nội dung, các hình thức thông tin, tuyên truyền về trưng cầu ý dân và trách nhiệm cơ quan, tổ chức trong thông tin, tuyên truyền về trưng cầu ý dân.
- Chương VI gồm 5 điều (từ Điều 35 đến Điều 39) quy định về phiếu trưng cầu ý dân; thời gian, địa điểm bỏ phiếu; việc bỏ phiếu sớm, hoãn ngày bỏ phiếu; quyền, nghĩa vụ của cử tri và nguyên tắc bỏ phiếu trưng cầu ý dân.
- Chương VII gồm 10 điều (từ Điều 40 đến Điều 49) quy định về kiểm phiếu; phiếu không hợp lệ; khiếu nại, tố cáo về kiểm phiếu; biên bản kết quả kiểm phiếu của Tổ trưng cầu ý dân; kết quả trưng cầu ý dân; báo cáo kết quả trưng cầu ý dân của Ủy ban nhân dân các cấp và việc báo cáo Quốc hội về kết quả trưng cầu ý dân của Ủy ban thường vụ Quốc hội; việc bỏ phiếu lại; xác định và công bố kết quả trưng cầu ý dân; báo cáo Quốc hội về kết quả trưng cầu ý dân.
- Chương VIII gồm 3 điều (từ Điều 50 đến Điều 52) quy định về xử lý vi phạm pháp luật về trưng cầu ý dân; về hiệu lực thi hành và việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật.
II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT
1. Phạm vi điều chỉnh (Điều 1)
Phạm vi điều chỉnh của Luật bao gồm các quy định về việc trưng cầu ý dân; nguyên tắc trưng cầu ý dân; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức trong trưng cầu ý dân; trình tự, thủ tục quyết định việc trưng cầu ý dân và tổ chức trưng cầu ý dân; kết quả và hiệu lực của kết quả trưng cầu ý dân.2. Khái niệm trưng cầu ý dân
Trưng cầu ý dân là việc Nhà nước tổ chức để cử tri cả nước trực tiếp biểu quyết bằng hình thức bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước theo quy định của Luật. Việc ban hành Luật trưng cầu ý dân không hạn chế việc Nhà nước tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với những vấn đề đã được quy định trong Hiến pháp và pháp luật.
Trưng cầu ý dân và lấy ý kiến Nhân dân tuy cùng là hình thức để Nhân dân phát huy quyền dân chủ trực tiếp tham gia, thể hiện ý kiến với Nhà nước nhưng giữa chúng có sự khác nhau về nội dung, hình thức và giá trị pháp lý, cụ thể là:
Thứ nhất, về nội dung, vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân là những vấn đề quan trọng của đất nước, có phạm vi ảnh hưởng toàn quốc và phải do Quốc hội quyết định; còn vấn đề lấy ý kiến Nhân dân có thể là các vấn đề ở mức độ, phạm vi khác nhau, thuộc nhiều lĩnh vực do nhiều cơ quan quyết định, có thể là vấn đề ở tầm quốc gia hoặc chỉ là các vấn đề liên quan đến một hoặc một số địa phư