CHUYÊN MỤC

Bộ Thủ tục hành chính công
Quy hoạch - kế hoạch
Thông tin tuyên truyền
Làm theo lời Bác
Góp ý cá nhân, tổ chức
Hỏi đáp
Lịch công tác

Đề cương tuyên truyền tháng 6/2019

Ngày đăng bài: 19/06/2019
UBND phường giới thiệu nội dung tuyên truyền Luật phòng chống tác hại của thuốc lá đến toàn thể cán bộ, Đảng viên và nhân dân trên địa bàn phường

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN
LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ


 
          Ngày 18 tháng 6 năm 2012, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá (PCTHTL) và ngày 02 tháng 7 năm 2012 Chủ tịch nước đã ký Lệnh công bố Luật này. Luật có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 5 năm 2013.
I. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT PCTHTL
1. Bố cục và nội dung cơ bản của Luật:
Luật có 5 chương và 35 điều, với các chính sách pháp luật cơ bản về giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, kiểm soát chặt chẽ để giảm nguồn cung cấp thuốc lá và điều kiện bảo đảm để thực hiện hiệu quả công tác PCTHTL, cụ thể là:
1.1. Chương I. Những quy định chung gồm có 9 điều: phạm vi điều chỉnh (Điều 1); giải thích từ ngữ (Điều 2); nguyên tắc PCTHTL (Điều 3); chính sách của Nhà nước về PCTHTL (Điều 4); trách nhiệm quản lý nhà nước về PCTHTL (Điều 5); trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, địa phương trong PCTHTL (Điều 6); quyền và nghĩa vụ của công dân trong PCTHTL (Điều 7); hợp tác quốc tế trong PCTHTL (Điều 8) và các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 9).
Chương này quy định những nội dung cơ bản về PCTHTL bao gồm phạm vi điều chỉnh, các nguyên tắc mang tính định hướng, chính sách cơ bản để thúc đẩy công tác PCTHTL và các hành vi bị nghiêm cấm trong PCTHTL.
Để thực hiện đồng bộ, thống nhất, toàn diện, hiệu quả công tác PCTHTL, Luật quy định đồng thời cả các biện pháp giảm cầu và giảm cung đối với thuốc lá. Trong đó, chú trọng trước hết đến các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng đối với thuốc lá để từng bước giảm số người sử dụng thuốc lá, giảm tác hại của thuốc lá, kết hợp với các biện pháp giảm dần nguồn cung cấp thuốc lá có định hướng, theo lộ trình, bảo đảm tính khả thi và phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
Mục đích ban hành Luật là nhằm bảo đảm công tác PCTHTL nên Luật không quy định cụ thể về hoạt động kinh doanh thuốc lá mà chỉ quy định những nội dung kinh doanh thuốc lá liên quan chặt chẽ đến PCTHTL, những vấn đề chưa được quy định trong các văn bản pháp luật khác và những vấn đề làm cơ sở pháp lý chung để Chính phủ căn cứ vào Luật, quy định cụ thể cho hoạt động kinh doanh thuốc lá.
Nhằm làm rõ khái niệm, từ đó giúp người dân có cách hiểu chung, thống nhất về các quy phạm được quy định trong Luật, Luật đã giải thích một số từ ngữ quan trọng, được sử dụng nhiều lần, bao gồm các khái niệm: thuốc lá, sản phẩm mô phỏng thuốc lá, tác hại của thuốc lá, cảnh báo sức khoẻ, địa điểm công cộng, nơi làm việc, trong nhà….
Luật quy định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về PCTHTL. Bộ Y tế là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về PCTHTL. Các bộ, ngành có liên quan, đặc biệt là Bộ Công Thương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài chính, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm chủ động thực hiện nhiệm vụ về PCTHTL thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách; phối hợp với Bộ Y tế trong việc thực hiện quản lý nhà nước về PCTHTL. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về PCTHTL trong phạm vi địa phương. Quy định này giúp phân công rõ trách nhiệm của từng cơ quan có liên quan, là cơ sở để triển khai thực hiện cũng như thanh tra, kiểm tra trong PCTHTL.
Trong PCTHTL có hai nhóm chủ thể quan trọng liên quan trực tiếp là các cơ sở kinh doanh thuốc lá và những người sử dụng thuốc lá. Để phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật của hai chủ thể nói trên và những đối tượng khác có liên quan, Luật đã quy định 9 nhóm hành vi bị cấm trong PCTHTL, đó là: Sản xuất, mua bán, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển thuốc lá giả, sản phẩm được thiết kế có hình thức hoặc kiểu dáng như bao gói hoặc điếu thuốc lá; mua bán, tàng trữ, vận chuyển nguyên liệu thuốc lá, thuốc lá nhập lậu; Quảng cáo, khuyến mại thuốc lá; tiếp thị thuốc lá trực tiếp tới người tiêu dùng dưới mọi hình thức; Tài trợ của tổ chức, cá nhân kinh doanh thuốc lá, trừ trường hợp quy định tại Điều 16 của Luật này; Người chưa đủ 18 tuổi sử dụng, mua, bán thuốc lá; Sử dụng người chưa đủ 18 tuổi mua, bán thuốc lá; Bán, cung cấp thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi; Bán thuốc lá bằng máy bán thuốc lá tự động; hút, bán thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm; Sử dụng hình ảnh thuốc lá trên báo chí, xuất bản phẩm dành riêng cho trẻ em; Vận động, ép buộc người khác sử dụng thuốc lá.
1.2. Chương II. Các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá gồm có 9 điều, quy định về: thông tin, giáo dục, truyền thông về PCTHTL (Điều 10); địa điểm cấm hút thuốc lá hoàn toàn (Điều 11); địa điểm cấm hút thuốc lá trong nhà nhưng được phép có nơi dành riêng cho người hút thuốc lá (Điều 12); nghĩa vụ của người hút thuốc lá (Điều 13); quyền và trách nhiệm của người đứng đầu, người quản lý địa điểm cấm hút thuốc lá (Điều 14); ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá (Điều 15); hoạt động tài trợ (Điều 16); cai nghiện thuốc lá (Điều 17); trách nhiệm trong hỗ trợ cai nghiện thuốc lá (Điều 18).
Các biện pháp này, đặc biệt là quy định cấm hút thuốc lá tại địa điểm công cộng, quy định in cảnh báo sức khỏe bằng chữ và hình ảnh chiếm 50% diện tích chính của bao bì thuốc lá nhằm nâng cao nhận thức của người dân về tác hại của thuốc lá, bảo vệ sức khỏe của những người không hút thuốc lá, hạn chế tiếp cận thuốc lá, ngăn ngừa tác hại của thuốc lá, tiến tới thay đổi hành vi, giúp người chưa hút thuốc lá không bắt đầu hút, người đang hút thuốc lá giảm dần và không hút thuốc lá, từ đó giúp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá.
Người đứng đầu các địa điểm công cộng có vai trò quan trọng trong thực thi quy định cấm hút thuốc lá nơi công cộng. Nếu người đứng đầu tuân thủ nghiêm quy định, họ sẽ tổ chức và bảo đảm các điều kiện để triển khai quy định tại địa điểm do mình quản lý, điều hành. Do vậy, Luật quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của người đứng đầu trong việc hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc mọi người thực hiện đúng quy định về cấm hút thuốc lá tại địa điểm do mình quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu không thực hiện đúng quy định về cấm hút thuốc lá.
Thực hiện quy định tại Điều 14 Công ước khung FCTC về biện pháp giảm cầu liên quan đến cai nghiện thuốc lá, để hạn chế tác hại cũng như giảm tỷ lệ sử dụng thuốc lá, Luật quy định cụ thể việc hỗ trợ cai nghiệm thuốc lá. Đồng thời, việc sản xuất, nhập khẩu và sử dụng các thuốc cai nghiện, điều trị nghiện thuốc lá được hưởng mức thuế ưu đãi theo quy định của pháp luật.
1.3. Chương III. Các biện pháp kiểm soát nguồn cung cấp thuốc lá gồm có 9 điều, quy định về: quản lý kinh doanh thuốc lá (Điều 19); quy hoạch kinh doanh thuốc lá (Điều 20); kiểm soát đầu tư sản xuất thuốc lá (Điều 21); kiểm soát sản lượng thuốc lá tiêu thụ trong nước (Điều 22); quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thuốc lá (Điều 23); số lượng điếu thuốc lá trong bao, gói (Điều 24); bán thuốc lá (Điều 25); các biện pháp phòng, chống thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả (Điều 26); trách nhiệm phòng, chống thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả (Điều 27).
Các biện pháp này nhằm mục tiêu kiểm soát chặt chẽ hoạt động sản xuất, kinh doanh thuốc lá để giảm dần nguồn cung cấp thuốc lá một cách chủ động, gắn liền với tốc độ giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, góp phần PCTHTL một cách hiệu quả và bền vững. Trong đó, Luật quy định việc kiểm soát hoạt động kinh doanh thuốc lá thông qua quy hoạch, cấp phép và quản lý sản lượng thuốc lá; quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thuốc lá; quy định cấm bán thuốc lá tại các địa điểm công cộng cấm hút thuốc lá, quy định cụ thể biện pháp và trách nhiệm của các cơ quan trong phòng, chống thuốc lá lậu nhằm hạn chế tình trạng buôn lậu thuốc lá ngày càng tăng tại Việt Nam.
1.4. Chương IV. Các điều kiện bảo đảm để PCTHTL gồm có 5 điều, quy định về: thành lập Quỹ PCTHTL (Điều 28); mục đích và nhiệm vụ của quỹ (Điều 29); nguồn hình thành và nguyên tắc sử dụng quỹ (Điều 30); xử lý vi phạm pháp luật về PCTHTL (Điều 30); trách nhiệm xử lý vi phạm pháp luật về PCTHTL (Điều 31).
Các biện pháp này tạo điều kiện bảo đảm bằng cách huy động nguồn kinh phí xã hội hóa ổn định, bền vững cho công tác PCTHTL, quy định các chế tài và trách nhiệm xử lý vi phạm để bảo đảm tính khả thi của Luật.
Công tác PCTHTL đòi hỏi nguồn kinh phí lớn và ổn định nên không thể lấy từ ngân sách nhà nước mà phải trên cơ sở xã hội hóa, huy động sự đóng góp của xã hội, đặc biệt là từ cơ sở sản xuất thuốc lá nhằm tăng tính cảnh báo về tác hại của thuốc lá và khuyến khích giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá. Luật quy định thành lập Quỹ PCTHTL để huy động, cung cấp và điều phối nguồn lực tài chính của Quỹ cho các hoạt động PCTHTL trên phạm vi toàn quốc.
Quỹ PCTHTL sẽ góp phần quan trọng để bảo vệ sức khỏe người dân, giảm chi phí y tế vốn ngày càng tăng với nguồn kinh phí ổn định và không phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Đó chính là giải pháp rất nhân văn, khắc phục được những khó khăn của cơ chế quản lý hiện hành, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và cũng là điều mà nhiều nước trong khu vực và trên thế giới đang áp dụng.
1.5. Chương V. Điều khoản thi hành bao gồm 3 điều, quy định về: hiệu lực thi hành (Điều 33); điều khoản chuyển tiếp (Điều 34); quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành (Điều 35).
2. Một số điểm mới và quan trọng của Luật:
2.1. Thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của thuốc lá:
Thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của thuốc lá là biện pháp quan trọng và hiệu quả để nâng cao nhận thức của người dân về tác hại của thuốc lá đến sức khỏe người sử dụng, người chịu ảnh hưởng của khói thuốc lá, nguy cơ mắc và chết do các bệnh có nguyên nhân từ thuốc lá để người dân không sử dụng thuốc lá, thực hiện nghiêm quy định về cấm hút thuốc lá tại địa điểm công cộng và tích cực tham gia phòng, chống tác hại của thuốc lá.
          Trước khi Luật được ban hành, thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ phân công, Bộ Y tế đã tích cực phối hợp với các Bộ, ngành, đoàn thể, địa phương tổ chức công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của thuốc lá với nhiều hoạt động đa dạng và hiệu quả như:
          - Thường xuyên tổ chức thông tin, tuyên truyền về tác hại của thuốc lá, các biện pháp phòng, chống tác hại của thuốc lá trên các phương tiện truyền thông đại chúng như phát thanh, truyền hình, báo viết, báo mạng...
          - Tổ chức chiến dịch tuyên truyền về tác hại của thuốc lá và phòng, chống tác hại của thuốc lá với nhiều hoạt động thiết thực, phong phú nhân dịp Tuần lễ quốc gia không thuốc lá từ ngày 25 đến ngày 31/5 hằng năm.
          - Xây dựng và triển khai các mô hình cộng đồng không thuốc lá tại một số tỉnh, thành phố, điểm du lịch, cơ quan, trường học, bệnh viện…
- Lồng ghép nội dung giáo dục về phòng, chống tác hại của thuốc lá cho học sinh, sinh viên trong các cấp học, bậc học.
- Lồng ghép nội dung thông tin, giáo dục, tuyên truyền về tác hại của thuốc lá trong các chương trình y tế quốc gia có liên quan như chương trình phòng, chống các bệnh không lây nhiễm, chương trình truyền thông, giáo dục sức khỏe...
Qua kết quả thực hiện cho thấy, công tác thông tin, giáo dục, truyền thông đã giúp cho nhận thức của người dân về phòng, chống tác hại của thuốc lá đã được cải thiện đáng kể. Do đó, cần thể chế hóa nội dung cũng như các yêu cầu, điều kiện bảo đảm để tổ chức hiệu quả hơn công tác này.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông, Luật Phòng, chống tác hại thuốc lá đã có nhiều điều khoản quy định về nội dung này như: Khoản 2 Điều 3 - Nguyên tắc phòng, chống tác hại thuốc lá; Điều 10 - Thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của thuốc lá; Điều 15 về in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá; Điểm a Khoản 2 Điều 29 về nhiệm vụ của Quỹ phòng, chống tác hại thuốc lá trong truyền thông, giáo dục về phòng, chống tác hại của thuốc lá.
Để thống nhất về định hướng cũng như cách tiếp cận, quan điểm của Nhà nước trong PCTHTL, bên cạnh các nguyên tắc chính làm cơ sở cho toàn bộ công tác PCTHTL, Khoản 2 Điều 3 của Luật đã quy định nguyên tắc hết sức quan trọng là "Chú trọng biện pháp thông tin, giáo dục, truyền thông để nâng cao nhận thức về tác hại của thuốc lá nhằm giảm dần tỷ lệ sử dụng thuốc lá và tác hại do thuốc lá gây ra".
Luật dành riêng Điều 10 quy định chi tiết về yêu cầu, nội dung và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của thuốc lá. Bên cạnh đó, Luật cũng quy định việc in cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh chiếm ít nhất 50% diện tích vỏ bao thuốc lá. Đây là biện pháp truyền thông hiệu quả, tiết kiệm để nâng cao tính cảnh báo đến người dân về tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe con người.
Đặc biệt, với quy định về việc thành lập Quỹ Phòng, chống tác hại của thuốc lá là nguồn kinh phí xã hội hóa từ khoản đóng góp bắt buộc của cơ sở sản xuất, nhập khẩu thuốc lá để sử dụng chủ yếu cho hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của thuốc lá trong toàn quốc là điều kiện thuận lợi để tăng cường nhận thức của người dân về tác hại của thuốc lá. Nội dung này được quy định cụ thể tại Điểm a Khoản 2 Điều 29 về mục đích và nhiệm vụ của Quỹ: "Quỹ có nhiệm vụ hỗ trợ hoạt động truyền thông về tác hại của thuốc lá và phòng, chống tác hại của thuốc lá phù hợp với từng nhóm đối tượng".
Việc quy định chú trọng thông tin, giáo dục, truyền thông là một trong những nguyên tắc quan trọng của Luật phòng, chống tác hại thuốc lá đã thể hiện vai trò quan trọng của công tác này, là điều kiện bảo đảm để nâng cao nhận thức của người dân về phòng, chống tác hại của thuốc lá cũng như tăng cường ý thức tuân thủ, chấp hành Luật sau khi được ban hành.
2.2. Địa điểm công cộng cấm hút thuốc lá:
Địa điểm cấm hút thuốc lá được quy định trong Luật bao gồm địa điểm cấm hút thuốc lá hoàn toàn (Điều 11) và địa điểm cấm hút thuốc lá trong nhà nhưng được phép có nơi dành riêng cho người hút thuốc lá (Điều 12).
- Cơ sở khoa học của điều luật này xuất phát từ tác hại của hút thuốc lá thụ động đến sức khỏe của người không hút thuốc lá cũng như hiệu quả của quy định cấm hút thuốc lá tại địa điểm công cộng đến việc giảm tỷ lệ người hút thuốc lá.
Phần lớn lượng khói thuốc lá thoát ra không được hít vào bởi người hút. Dòng khói phụ từ đầu điếu thuốc lá đang cháy tỏa ra ngoài (sidestream smoke) trộn với khói chính (mainstream smoke) người hút thuốc lá nhả ra tạo thành “khói thuốc lá tỏa ra môi trường” (environment tobaco smoke - ETS) hay còn gọi là “khói thuốc lá thụ động” (second-hand smoke - SHS) và hành động hít phải khói thuốc lá này được gọi là “hút thuốc lá thụ động”.
Hút thuốc lá thụ động là một nguy cơ lớn ảnh hưởng tới sức khoẻ. Khói toả ra từ đầu điếu thuốc lá đang cháy độc hại hơn khói thuốc lá do người hút hít vào vì có chứa nhiều chất độc hại hơn gấp 26 lần do cháy ở nhiệt độ cao và không qua bộ phận lọc. Nghiên cứu trên phạm vi quốc tế trong 20 năm gần đây về ảnh hưởng của khói thuốc lá thụ động đã chỉ ra rằng: Khói thuốc lá thụ động là một trong các tác nhân gây nhiều bệnh về tim mạch, phổi, làm suy giảm chức năng hô hấp và ảnh hưởng tới chức năng sinh sản của nam và nữ. Người thường xuyên hít phải khói thuốc tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành lên 25-30%, mắc bệnh phổi lên 20-30% và tăng nguy cơ đột quỵ lên 82%. Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ thường xuyên hít phải khói thuốc lá sẽ làm tăng tỷ lệ viêm đường hô hấp dưới (như viêm phế quản, viêm phổi) và viêm tai giữa; làm tăng các triệu chứng của đường hô hấp mãn tính như hen; làm giảm sự phát triển của phổi và tăng nguy cơ đột tử ở trẻ sơ sinh. Phụ nữ mang thai hít phải khói thuốc lá trong quá trình mang thai có thể gây biến đổi sự phát triển của bào thai, dễ sảy thai, đẻ non hoặc sinh con nhẹ cân.
Hiện nay, tỷ lệ bị phơi nhiễm với khói thuốc lá tại nhà là 67,6% và tại nơi làm việc là 49,0%. Đặc biệt, theo một số nghiên cứu cho thấy tỉ lệ phơi nhiễm với khói thuốc lá  ở nhà của phụ nữ là gần 70%, của trẻ em là gần 50%, số ngày trung bình trong một tuần phụ nữ phải tiếp xúc với khói thuốc ở nhà là 5,7 ngày, nơi làm việc là 5,1 ngày và nơi công cộng là 4,2 ngày. Như vậy, tỷ lệ thường xuyên tiếp xúc với khói thuốc lá thụ động ở nước ta rất cao.
Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo: Nên thực hiện các khu vực 100% không khói thuốc lá vì đây là cách duy nhất để bảo vệ sức khoẻ của tất cả mọi người khỏi tác hại của khói thuốc lá.
Bên cạnh đó, tại Điều 8 về Bảo vệ khỏi tiếp xúc với khói thuốc lá của Công ước khung về kiểm soát thuốc lá FCTC quy định “Các bên phải nhận thức được rằng đã có những bằng chứng khoa học chắc chắn chứng minh việc tiếp xúc với khói thuốc lá là nguyên nhân gây tử vong, bệnh tật và tàn phế. Mỗi nước sẽ thông qua và thi hành các biện pháp lập pháp, hành pháp, hành chính hữu hiệu nhằm bảo vệ mọi người khỏi việc phơi nhiễm với khói thuốc lá tại nơi làm việc trong nhà, trên các phương tiện giao thông công cộng, những nơi công cộng trong nhà và ở mức độ thích hợp, tại những nơi công cộng khác”.
Một số văn bản pháp luật hiện hành có quy định về các địa điểm công cộng cấm hút thuốc lá. Tuy nhiên, các quy định này còn chưa đủ rõ ràng, chưa bảo đảm tính khả thi nên cùng với việc thanh tra, kiểm tra và xử phạt không nghiêm, các quy định này được thực hiện rất kém.
- Xuất phát từ cơ sở nêu trên, để bảo vệ sức khỏe của những người không hút thuốc lá khỏi những ảnh hưởng có hại và nguy cơ phơi nhiễm với khói thuốc lá, Điều 11 của Luật quy định các địa điểm công cộng cấm hút thuốc lá hoàn toàn bao gồm: Các địa điểm công cộng cấm hút thuốc lá hoàn toàn cả trong nhà và trong phạm vi khuôn viên (cơ sở y tế; cơ sở giáo dục, trừ các cơ sở quy định tại điểm b khoản 2 Điều này; cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng, vui chơi, giải trí dành riêng cho trẻ em; cơ sở hoặc khu vực có nguy cơ cháy, nổ cao); các địa điểm công cộng cấm hút thuốc lá hoàn toàn trong nhà (nơi làm việc; trường cao đẳng, đại học, học viện; địa điểm công cộng, trừ các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 1 Điều 12 của Luật này) và cấm hút thuốc lá hoàn toàn trên một số phương tiện giao thông công cộng là ô tô, tàu bay.
Các địa điểm cộng cộng được quy định trong điều luật này là những địa điểm cần được bảo vệ tuyệt đối khỏi tác hại của việc hút thuốc lá. Đó là nơi có nhiều đối tượng dễ tổn thương như người bệnh, trẻ em, học sinh, sinh viên; là nơi có môi trường văn hóa, văn minh; nơi tập trung đông người hoặc nơi có yêu cầu an toàn nghiêm ngặt. Đồng thời, đây là những địa điểm hiện nay pháp luật đã quy định cấm hút thuốc lá. Trong tương lai, khi Luật được triển khai và có biện pháp bảo đảm thực hiện, quy định này sẽ có tính khả thi cao.
Bên cạnh việc bảo vệ sức khỏe của người không hút thuốc lá, việc quy định các địa điểm công cộng cấm hút thuốc lá hoàn toàn còn góp phần làm hạn chế, giảm tỷ lệ hút thuốc lá và thúc đẩy người hút bỏ hút thuốc lá. Việc cấm hút thuốc lá tại các địa điểm công cộng cũng không ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, kể cả ngành kinh doanh, giải trí.
Ngoài các địa điểm công cộng cấm hút thuốc lá hoàn toàn được quy định tại Điều 11 của Luật, có một số địa điểm công cộng khác hiện đã có quy định cấm hút thuốc lá nhưng việc thực hiện còn rất hạn chế. Nguyên nhân của tình trạng này là tỷ lệ hút thuốc lá ở Việt Nam còn khá cao. Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, việc cấm hút thuốc lá hoàn toàn tại các địa điểm này là chưa khả thi nên bên cạnh việc quy định các địa điểm công cộng cấm hút thuốc lá hoàn toàn, cần có cơ chế cho phép tại một số địa điểm công cộng, người chủ địa điểm được tổ chức một nơi dành riêng cho người hút thuốc lá. Quy định này vừa bảo đảm ngăn ngừa ảnh hưởng của khói thuốc lá đến sức khỏe của người khác, vừa bảo đảm nhu cầu của những người hút thuốc lá, ngăn ngừa nguy cơ vi phạm quy định cấm hút thuốc lá của họ, tạo hành vi và thói quen văn minh khi sử dụng thuốc lá, tránh “nhờn” luật. Đồng thời, quy định này cũng tạo ra sự khó khăn, bất tiện cho người hút thuốc lá (vì họ chỉ được hút tại những nơi dành riêng) sẽ có tác dụng giúp họ giảm dần việc hút thuốc lá, tăng động lực bỏ thuốc lá.
Do vậy, Điều 12 của Luật quy định các địa điểm công cộng cấm hút thuốc lá nhưng được phép có nơi dành riêng cho người hút thuốc lá bao gồm: khu vực cách ly của sân bay; quán bar, karaoke, vũ trường, khách sạn và cơ sở lưu trú du lịch; trên các phương tiện giao thông công cộng là tàu thủy, tàu hỏa.
Khu vực dành riêng cho người hút thuốc lá tại các địa điểm này phải bảo đảm các điều kiện về không gian, thông khí, vệ sinh môi trường, có dụng cụ chứa các mẩu, tàn thuốc lá, có biển báo tại các vị trí phù hợp, dễ quan sát và phòng, chống cháy nổ để bảo đảm an toàn và hạn chế tác hại của thuốc lá.
Như vậy, Luật quy định địa điểm cấm hút thuốc lá bao gồm địa điểm cấm hút thuốc lá hoàn toàn và địa điểm cấm hút thuốc lá trong nhà nhưng được phép có nơi dành riêng cho người hút thuốc lá xuất phát từ thực tiễn xã hội và thói quen hút thuốc lá của người dân Việt Nam, cùng với cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý nhằm đảm bảo tính khả khi của điều luật, hạn chế tình trạng phơi nhiễm với khói thuốc lá và giúp giảm dần tỷ lệ sử dụng thuốc lá.
2.3. Ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá:
Quy định về ghi nhãn là nội dung bắt buộc đối với các sản phẩm hàng hóa. Các thông tin trên nhãn hàng hóa cung cấp cho người tiêu dùng những đặc điểm cơ bản nhất của sản phẩm.
Bên cạnh việc tuân thủ các yêu cầu chung của pháp luật về ghi nhãn hàng hóa, thuốc lá được sản xuất, nhập khẩu để tiêu thụ tại Việt Nam phải bảo đảm các yêu cầu riêng như: không được ghi các từ, cụm từ thể hiện sản phẩm thuốc lá đó ít có hại hoặc làm cho người sử dụng hiểu sai về tác hại của thuốc lá và khói thuốc lá đối với sức khoẻ con người; phải dán tem hoặc in mã số, mã vạch; ghi ngày sản xuất, ngày hết hạn sử dụng; ghi rõ số lượng điếu đối với bao thuốc lá dạng điếu hoặc trọng lượng đối với các loại thuốc lá khác.
Luật cũng quy định: Bao bì của thuốc lá được sản xuất, nhập khẩu để tiêu thụ tại Việt Nam phải in cảnh báo sức khoẻ bằng chữ và hình ảnh bảo đảm rõ ràng, dễ nhìn, dễ hiểu. Cảnh báo sức khỏe phải chiếm ít nhất 50% diện tích của mỗi mặt chính trước và mặt chính sau trên bao, tút, hộp thuốc lá. Nội dung cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá phải mô tả cụ thể tác hại của việc sử dụng thuốc lá đối với sức khỏe và thông điệp thích hợp khác, phải được thay đổi theo định kỳ 02 năm một lần.
Đồng thời, Luật giao Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định cụ thể về ghi nhãn đối với thuốc lá và trình Chính phủ quyết định tăng % diện tích in cảnh báo sức khỏe phù hợp với từng thời kỳ.
Hai nội dung quan trọng được điều chỉnh trong điều luật này là quy định về in cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh chiếm ít nhất 50% diện tích trình bày chính và không được in các từ, cụm từ thể hiện sản phẩm thuốc lá đó ít có hại hoặc làm cho người sử dụng hiểu sai về tác hại của thuốc lá và khói thuốc lá đối với sức khoẻ con người trên tất cả các bao bì thuốc lá. Quy định này dựa trên những bằng chứng khoa học và thực tiễn có tính thuyết phục rõ ràng.
Thứ nhất, về in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá:
- Cơ sở của quy định trên xuất phát từ việc thuốc lá là một sản phẩm gây nghiện có hại cho sức khỏe con người. Trên thế giới, tỷ lệ hút thuốc lá vẫn đang tiếp tục tăng cao. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do hiểu biết của người dân về tác hại của hút thuốc lá đối với sức khỏe chưa đầy đủ, đặc biệt tại các nước nghèo và đang phát triển như Việt Nam, do việc tiếp cận với thông tin về mối nguy cơ này còn hạn chế. Quy định in cảnh báo sức khỏe bằng chữ và hình ảnh sẽ là một biện pháp PCTHTL hiệu quả, bởi vì:
- Cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá là một nguồn thông tin rất tốt để đưa trực tiếp tới từng người hút thuốc lá (mỗi khi họ hút) và cả người không hút thuốc lá nhưng nhìn thấy bao thuốc lá, những thông điệp hữu ích về những tác hại gây ra do sử dụng thuốc lá.
- Mục đích của việc in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá là nhằm tăng cường mức độ nhận thức về tác hại của thuốc lá với sức khỏe không kể nhóm tuổi, giới tính, nơi sinh sống để mọi người dân hiểu rằng, sử dụng thuốc lá gây ra bệnh tật, tử vong và thay đổi thái độ với hành vi hút thuốc lá, tăng các nỗ lực bỏ thuốc lá.
- Hiểu biết của người dân về tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe chưa đầy đủ, đặc biệt tại các nước nghèo và đang phát triển như nước ta, do việc tiếp cận với thông tin về mối nguy cơ này còn hạn chế. Vì vậy, việc in cảnh báo sức khỏe trên vỏ bao thuốc lá có thể truyền tải thông điệp về tác hại của thuốc lá một cách liên tục đến với từng người hút thuốc lá.
- Cảnh báo sức khỏe khuyến khích người hút cai thuốc lá hoặc hút bớt đi, người không hút thuốc lá sẽ không bắt đầu hút, nhất là giúp ngăn ngừa thanh thiếu niên bắt đầu hút thuốc lá vì cảnh báo giúp họ nhận biết hút thuốc lá không làm họ hấp dẫn hơn mà chỉ làm cho họ bệnh tật và chết sớm hơn.
- In cảnh báo sức khỏe bằng cả chữ và hình ảnh được coi là một biện pháp phòng, chống tác hại thuốc lá rất hiệu quả vì gây ấn tượng mạnh, đến ngay đối với mọi đối tượng, kể cả những người có trình độ văn hóa thấp hoặc không biết chữ; bảo đảm quyền của người tiêu dùng, giúp người dân hình dung rõ nhất về tác hại của thuốc lá, đặc biệt là những hậu quả đối với sức khỏe, tính gây nghiện và nguy cơ chết người từ việc sử dụng các sản phẩm thuốc lá; là biện pháp truyền thông đạt hiệu quả lớn mà chi phí cho việc in ấn lại thấp (ước tính không quá 500 đồng/bao thuốc lá). 
- Theo quy định tại Điều 11 của Công ước  khung FCTC về đóng gói và gắn nhãn mác của các sản phẩm thuốc lá “Mỗi nước sẽ thông qua các quy định về in luân phiên các cảnh báo sức khoẻ trên trên bao bì các sản phẩm thuốc lá. Cảnh báo sức khoẻ nên chiếm 50% diện tích trưng bày chính nhưng không được nhỏ hơn 30% diện tích trưng bày chính của vỏ bao thuốc. Cảnh báo sức khoẻ bằng hình ảnh và/hoặc chữ.”
Chính vì vậy, rất nhiều nước trên thế giới đã quy định bắt buộc phải in cảnh báo tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe trên vỏ bao thuốc lá. Đến nay, trên thế giới có 43 quốc gia và vùng lãnh thổ đã quy định bắt buộc phải in cảnh báo sức khỏe trên vỏ bao thuốc lá: Các nước Đông Nam Á và gần Việt Nam có Singapore, Thailand, Malaysia, Bruney, Philippines, Hong Kong, Taiwan; có quốc gia còn quy định diện tích cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá rất cao như Uruguay (80% cả hai mặt trước và sau), Mauritius (60% mặt trước và 70% mặt sau), Australia, New Zealand (30% mặt trước và 90% mặt sau), Philippines (60% cả hai mặt trước và sau) …
- Quy định in cảnh báo sức khoẻ hiện hành của Việt Nam còn yếu so với quy định của Công ước Khung, cụ thể: số lượng mẫu cảnh báo ít; thông điệp yếu; diện tích in cảnh báo nhỏ; chưa quy định in cảnh báo sức khoẻ bằng hình ảnh.
Thứ hai về quy định cấm in các thông tin có thể gây nhầm lẫn:
Những tài liệu lưu hành nội bộ trong ngành công nghiệp thuốc lá đã cho thấy rằng, những loại thuốc lá “nhẹ” (light) và “siêu nhẹ” (super light) được tung ra thị trường vào thập niên 50 và 60 và thuốc lá “low tar” (hắc ín thấp) và “mild” (êm dịu) vào thập niên 70 là nhằm mục đích cung cấp cho những người hút thuốc lá mà có lo lắng về sức khoẻ của họ một lựa chọn khác ngoài việc bỏ thuốc, khiến những người có ý định bỏ thuốc sẽ từ bỏ ý định của mình, có thể khuyến khích những người đang có dự định bỏ thuốc lầm tưởng rằng các loại thuốc lá này là an toàn.
Đã có những cơ sở lý lẽ y tế công cộng rất thuyết phục để ủng hộ cho việc cấm sử dụng những thuật ngữ như “nhẹ” hay “êm dịu” dựa trên những bằng chứng rõ rệt chứng minh những thuật ngữ này đưa tới sự hiểu sai lệch của người sử dụng. Do việc thiết kế sản phẩm và phản ứng bù trừ của người hút thuốc lá (với việc thay đổi cách hút để có thể đưa đủ lượng nicotine vào cơ thể giống như trước), thì gần như chắc chắn rằng những người hút thuốc lá “nhẹ” vẫn hấp thụ một lượng độc chất tương đương như những người hút thuốc lá thường. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhiều người hút thuốc lá hiểu sai về lượng tar và nicotine nhận được từ loại thuốc lá “nhẹ” và nhiều người đã chọn loại thuốc lá này để mong nhận được những lợi ích về sức khỏe.
Bên cạnh đó, Công ước khung về kiểm soát thuốc lá cũng quy định cấm việc sử dụng các từ ngữ gây nhầm lẫn về tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe trên vỏ bao thuốc.
Trên thế giới, Brazil, Liên minh Châu Âu và nhiều quốc gia khác đã ban hành lệnh cấm sử dụng các thuật ngữ như “nhẹ” và “êm dịu”.
2.4. Số lượng điếu thuốc lá trong bao, gói:
Luật quy định: sau 03 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, số lượng điếu thuốc lá đóng gói trong 01 bao thuốc lá không được ít hơn 20 điếu, trừ thuốc lá xì gà và thuốc lá được sản xuất để xuất khẩu.
Quy định này làm cơ sở để tiến tới cấm bán các bao thuốc lá dưới 20 điếu trong thời gian tới khi có đủ điều kiện thực tiễn và có tính khả thi.
Cơ sở thực tiễn của điều luật:
- Những nghiên cứu gần đây cho thấy, tỷ lệ hút thuốc lá trong thanh thiếu niên Việt Nam đang gia tăng và độ tuổi bắt đầu hút thuốc lá ngày càng trẻ: Có đến 17.6% nam và 5.5% nữ học sinh dưới 10 tuổi đã từng thử hút thuốc lá; Tỷ lệ học sinh nam hút thuốc lá trước 10 tuổi là 17%, trước 13 - 15 tuổi là 6.5%, đặc biệt có 10.3% học sinh nam và 4% học sinh nữ độ tuổi 13 - 15 trả lời có ý định sẽ hút thuốc lá trong tương lai.
- Khi bắt đầu hút thuốc lá, thanh thiếu niên là đối tượng ít có khả năng nhận thức được tính chất gây nghiện của thuốc lá và các nguy cơ bệnh tật từ việc hút thuốc lá. Do đó, thanh thiếu niên có thể dễ dàng nghiện chất nicotine chỉ sau khi hút vài điếu thuốc lá. Rất nhiều người trong số họ sẽ phải gánh chịu những căn bệnh do thuốc lá gây ra.
- Có nhiều nguyên nhân tạo điều kiện cho thanh thiếu niên hút thuốc lá sớm hơn: mua thuốc lá dễ dàng; bao thuốc lá nhỏ dưới 20 điếu, thuốc lá lẻ được bày bán khắp nơi; giá thuốc lá hấp dẫn (chỉ khoảng 5.500đ/bao); quy định cấm bán thuốc cho người dưới 18 tuổi chưa được thực hiện nghiêm...
- Mục đích của việc cấm đóng gói và bán các sản phẩm thuốc lá dưới 20 điếu là để hạn chế thanh thiếu niên mua thuốc lá hút. Tại một số quốc gia trong khu vực, các nhà sản xuất thuốc lá sản xuất bao thuốc lá nhỏ khoảng từ 05 đến 10 điếu được đóng gói dưới nhiều hình thức bắt mắt giống như gói kẹo hoặc bánh với giá thành thấp hơn rất nhiều so với bao đóng gói 20 điếu. Bao gói nhỏ dưới 20 điếu được các nhà sản xuất sử dụng như một biện pháp thu hút giới trẻ bằng cách quảng cáo về sự sành điệu, tiện dụng và giá rẻ. Đây là một nguyên nhân quan trọng tạo điều kiện cho thanh thiếu niên dễ dàng tiếp cận với thuốc lá, làm ra tăng tỷ lệ hút thuốc lá ở nhóm tuổi này.
- Những bao thuốc lá nhỏ dưới 20 điếu hiện đã bị cấm ở nhiều quốc gia như Singapore, Thái lan, Úc, Mỹ, Anh, Canada …
Vì vậy, để ngăn ngừa thanh thiếu niên hút thuốc lá, đây là một biện pháp cần thiết phải được thực hiện.
Cơ sở pháp lý của điều luật:
Khoản 3 Điều 16 Công ước khung về bán thuốc lá cho và bởi trẻ vị thành niên quy định: “Mỗi Bên sẽ nỗ lực ngăn cấm việc bán thuốc lá lẻ hoặc những bao thuốc lá nhỏ mà điều này sẽ làm tăng khả năng chi trả đối với các sản phẩm này ở trẻ vị thành niên.”
Như vậy, nhằm mục đích hạn chế thanh thiếu niên mua thuốc lá hút, Luật quy định số lượng điếu thuốc lá đóng gói trong 01 bao thuốc lá không được ít hơn 20 điếu trừ thuốc lá xì gà và thuốc lá được sản xuất để xuất khẩu. Tuy nhiên, quy định này áp dụng sau 3 năm kể từ khi Luật có hiệu lực, đây là khoảng thời gian hợp lý để các công ty thuốc lá có thời gian thay đổi trang thiết bị và xử lý những bao thuốc lá được đóng gói ít hơn 20 điếu, cũng như để số lượng những bao thuốc lá này trong thị trường được tiêu thụ hết tạo điều kiện cho hoạt động thanh kiểm tra được tiến hành thuận lợi và điều luật có khả năng thi hành trong thực tế.
2.5. Cấm quảng cáo, khuyến mại, tài trợ, quản lý và hạn chế trưng bày thuốc lá tại các điểm bán thuốc lá:
Thuốc lá là sản phẩm có hại cho sức khỏe con người, môi trường và không khuyến khích tiêu dùng. Do đó, Luật quy định cấm việc quảng cáo, khuyến mại, tiếp thị thuốc lá trực tiếp tới người tiêu dùng dưới mọi hình thức.
 Bên cạnh đó, Luật còn cấm các doanh nghiệp kinh doanh thuốc lá không được thực hiện các hoạt động tài trợ dưới bất kỳ hình thức nào, trừ tài trợ nhân đạo cho chương trình xóa đói, giảm nghèo; phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, thảm họa; phòng, chống buôn lậu thuốc lá và không được thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về việc tài trợ đó.
Các hoạt động tài trợ của doanh nghiệp kinh doanh thuốc lá thường gắn với quảng cáo, thúc đẩy việc mua và sử dụng thuốc lá. Các công ty thuốc lá tài trợ cho các hoạt động xã hội và thông qua các hoạt động này quảng cáo cho hình ảnh của công ty thuốc lá. Một số hoạt động tài trợ cho phòng, chống tác hại thuốc lá trong trường học và đối tượng thanh thiếu niên nhưng lại xuất hiện khẩu hiệu như "thuốc lá là sự lựa chọn của người trưởng thành" nhằm gợi mở trí tò mò của các em học sinh và thanh thiếu niên về các sản phẩm thuốc lá. Do đó, các hoạt động này cần phải bị cấm. Tuy nhiên, các hoạt động tài trợ nhân đạo của doanh nghiệp thuốc lá vẫn có thể được phép nhưng cần quản lý chặt chẽ để tránh việc quảng bá sản phẩm thuốc lá và hình ảnh các công ty thuốc lá.
Thuốc lá là loại hàng hóa độc hại nên hiện nay thuộc diện hàng hóa kinh doanh phải có giấy phép và việc quản lý các địa điểm bán thuốc lá cần chặt chẽ. Tại Việt Nam, thuốc lá được trưng bày, bán lẻ ở khắp mọi nơi như trên phố, hàng rong, các quầy hàng tạp hóa, quán nước… Kinh doanh bán lẻ thuốc lá không cần cấp phép. Hoạt động quảng cáo thuốc lá tại các điểm bán hàng vẫn diễn ra thường xuyên. Hình thức quảng cáo phổ biến nhất vẫn là giá, hộp trưng bày, quầy trưng bày thuốc lá có logo và màu sắc của thương hiệu thuốc lá. Tỉ lệ cửa hàng trưng bày quá 1 bao hay 1 hộp (200 điếu) của một nhãn thuốc lá rất cao (80,4%). Tỉ lệ này tại thành phố Hồ Chí Minh cao hơn Hà Nội (84,6% so với 76,1%) và có sự khác nhau theo các loại cửa hàng ở từng thành phố. Điều này làm cho việc mua thuốc lá trở nên quá dễ dàng, làm tăng khả năng sử dụng thuốc lá và tỷ lệ hút thuốc lá trong thanh thiếu niên, người nghèo, người có thu nhập thấp. Do đó, cần quản lý chặt chẽ bằng hình thức cấp phép đối với các doanh nghiệp, đại lý bán buôn, đại lý bán lẻ thuốc lá và hạn chế trưng bày thuốc lá tại các điểm bán.
Trên cơ sở đó, Luật quy định: Các doanh nghiệp, đại lý bán buôn, đại lý bán lẻ thuốc lá phải có giấy phép bán thuốc lá theo quy định của Chính phủ. Người chịu trách nhiệm tại điểm bán của đại lý bán buôn, đại lý bán lẻ thuốc lá phải treo biển thông báo không bán thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi; đại lý bán lẻ, điểm bán lẻ thuốc lá không được trưng bày quá một bao, một tút hoặc một hộp của một nhãn hiệu thuốc lá. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được tổ chức, cho phép hoặc bán thuốc lá tại các địa điểm quy định tại Điều 11, Điều 12, trừ điểm a khoản 1 Điều 12 của Luật này; không được bán thuốc lá phía ngoài cổng nhà trẻ, trường mẫu giáo, trường tiểu học, trung học cơ sở, phổ thông trung học, viện nghiên cứu y học, bệnh viện, nhà hộ sinh, trung tâm y tế dự phòng, trạm y tế xã, phường, thị trấn trong phạm vi 100 mét tính từ ranh giới khuôn viên gần nhất của cơ sở đó.
Đây là những biện pháp quản lý mới, chặt chẽ, nghiêm ngặt hơn đối với hoạt động trưng bày và bán lẻ thuốc lá nhằm kiểm soát hoạt động cung cấp thuốc lá cũng như việc tiếp cận thuốc lá phù hợp với yêu cầu phòng, chống tác hại của thuốc lá.
2.6. Về quản lý, kinh doanh, quy hoạch, đầu tư sản xuất, kiểm soát sản lượng thuốc lá tiêu thụ trong nước:
Luật chỉ tập trung vào các biện pháp phòng, chống tác hại của thuốc lá, không điều chỉnh các hoạt động sản xuất, kinh doanh thuốc lá thuần túy vì các họat động này được thực hiện theo quy định của Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư…. Tuy nhiên, kiểm soát nguồn cung cấp thuốc lá là nhóm biện pháp quan trọng hướng tới giảm nguồn cung cấp thuốc lá một cách chủ động, phù hợp với nhóm biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá. Do đó, Luật đã quy định một số biện pháp mang tính nguyên tắc để kiểm soát họat động kinh doanh thuốc lá, bao gồm: quản lý kinh doanh thuốc lá (Điều 19); quy hoạch kinh doanh thuốc lá (Điều 20); kiểm soát đầu tư sản xuất thuốc lá (Điều 21); kiểm soát sản lượng thuốc lá tiêu thụ trong nước (Điều 22) và một số biện pháp khác. Đây là cơ sở pháp lý để Chính phủ quy định chi tiết và tổ chức quản lý đối với các hoạt động kinh doanh thuốc lá cụ thể.
Trước đây, hoạt động quản lý, kinh doanh, đầu tư sản xuất thuốc lá đã được quy định tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên nội dung này được quy định thống nhất, mang tính chất định hướng trong Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá.
Các nguyên tắc quản lý kinh doanh thuốc lá thể hiện chính sách nhất quán và quan đi