TIN TỨC

CHUYÊN MỤC

Kết quả 10 năm thực hiện phong trào thi đua “Dân vận khéo” trong lĩnh vực kinh tế giai đoạn 2009-2019

Ngày đăng bài: 01/09/2019
Thực hiện Kế hoạch số 55-KH/TU về tổ chức phong trào và các hướng dẫn về nội dung, tiêu chi để thực hiện phong trào thi đua “Dân vận khéo” và Chương trình hành động số 21-CTr/TU, ngày 15/02/2012 của Ban Thường vụ Thành ủy Pleiku về thực hiện Nghị quyết 03-NQ/TU của BCH Đảng bộ tỉnh Gia Lai (khóa XIV) về xây dựng nông thôn mới tỉnh Gia lai đến năm 2020, Chi bộ Phòng Kinh tế đã tổ chức triển khai, hướng dẫn đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức của 02 cơ quan và tập huấn cụ thể về nội dung phong trào thi đua “Dân vận khéo”.

Nhìn chung trong thời gian qua, phong trào thi đua “Dân vận khéo” đã được lãnh đạo cơ quan phối hợp chặt chẽ với UBND các xã, phường, Mặt trận, các tổ chức đoàn thể trong công tác tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân. Thông qua công tác dân vận đã vận động các tầng lớp nhân dân trên địa bàn thực hiện tốt các chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Pleiku.

Từ năm 2010 đến nay, đã bố trí kinh phí 3.545,4 triệu đồng để tổ chức rà soát, điều chỉnh kịp thời quy hoạch xã nông thôn mới đảm bảo phù hợp với quy hoạch chung của thành phố và đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của xã.  Phát triển giao thông nông thôn được xác định là khâu đột phá, đáp ứng yêu cầu của người dân nên được chú trọng đầu tư, người dân đồng tình và tự nguyện thực hiện, đã đầu tư xây dựng, duy tu bảo dưỡng 253,69 km đường giao thông nông thôn với kinh phí 265.636,57 triệu đồng. Đến nay, tỷ lệ đường trục xã, liên xã được đường bê tông, nhựa hóa đạt 100%; tỷ lệ đường trục thôn, làng được bê tông đạt 91,2%; tỷ lệ đường ngõ xóm cứng hóa đạt 76,6%; tỷ lệ đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận lợi đạt 82,9%. Hệ thống thủy lợi được đầu tư từ nguồn vốn ngân sách của Trung ương, tỉnh và thành phố, đã đầu tư, nâng cấp được 38,99 km kênh mương và cải tạo nâng cấp 2 hồ, 3 đập với kinh phí 5.119 triệu đồng. Hệ thống thủy lợi của các xã phát huy được hiệu quả, đáp ứng yêu cầu tưới, tiêu cho 9.145,8/9.898,7, đạt 92,4%. Hệ thống lưới điện trên địa bàn thành phố được đầu tư từ nhiều nguồn vốn như: vốn ngân sách Nhà nước, vốn doanh nghiệp, vốn đóng góp của nhân dân, đặc biệt là sự quan tâm đầu tư mạnh mẽ của ngành điện trong việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới hệ thống lưới điện trên địa bàn thành phố. Tổng số hộ trên địa bàn các xã là 12.744 hộ, trong đó có 12.744 hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ nguồn điện, đạt 100%. Trong quá trình xây dựng nông thôn mới, hệ thống trường học từ mầm non đến Trung học cơ sở ở các xã được quan tâm đầu tư xây mới, nâng cấp, sửa chữa đảm bảo đạt chuẩn, với tổng kinh phí 200.356 triệu đồng. Đến nay, tại các xã có tổng số 24 trường học (trong đó: 9 trường mầm non, 7 trường tiểu học, 4 trường THCS, 4 trường tiểu học và THCS). Số trường học đạt chuẩn Quốc gia về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học là 6/24 trường, đạt tỷ lệ 25%, 18/24 trường học còn lại (chiếm 75%) đều có đủ cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đạt chuẩn theo quy định, đảm bảo khá tốt cho việc dạy và học (không có trường hợp phòng học tạm, phòng bán kiên cố và tình trạng học 3 ca trong ngày).

Từ nguồn vốn ngân sách các cấp và nguồn vốn góp của nhân dân, thành phố đã xây mới 42 nhà văn hóa thôn, làng; đầu tư nâng cấp, sửa chữa 9  Trung tâm văn hóa - Thể thao xã và 39 nhà văn hóa thôn, làng; xây mới 9 trung tâm làm việc một cửa của UBND xã với tổng kinh phí 48.745,54 triệu đồng. Việc đầu tư lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể thao đạt nhiều kết quả đáng khích lệ. Hệ thống truyền thanh đến các thôn, làng được bổ sung qua hàng năm; cùng với nguồn vốn do nhân dân đóng góp, đến nay hầu hết các thôn, làng đã có hội trường, nhà rông văn hóa và nhà sinh hoạt cộng đồng; các sân tập thể thao như sân bóng đá, bóng chuyền, sân quần vợt, nhà tập thể dục, điểm sinh hoạt bóng bàn, cơ sở tập luyện thẩm mỹ… được nhân dân đầu tư xây dựng đã đưa phong trào thể dục thể thao phát triển rộng khắp. Hiện có 5 chợ trên địa bàn 4 xã. Với nguồn kinh phí trực tiếp từ Chương trình kết hợp xã hội hóa trong đầu tư đã nâng cấp, sửa chữa 04 chợ với kinh phí 7.658,24 triệu đồng. Đến nay 05 chợ đã được đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, xây dựng nội quy hoạt động chợ đảm bảo đúng quy định, và đạt các tiêu chuẩn về chợ NTM.

Đã thực hiện xây dựng trang thông tin điện tử thành phần của các xã trên trang thông tin điện tử của thành phố, trang bị hệ thống đài truyền thanh không dây cho các xã với kinh phí 3.065,98 triệu đồng. Số lượng và hiện trạng các điểm bưu chính viễn thông trên địa bàn các xã được đảm bảo, 9/9 xã có điểm bưu chính đạt chuẩn, có điểm truy cập internet công cộng, có đài truyền thành và hệ thống loa đến các thôn. Trên địa bàn các xã không còn nhà tạm, nhà dột nát. Tổng số hộ gia đình có nhà đạt chuẩn theo quy định của Bộ Xây dựng trên địa bàn các xã là 11.183/12.744 hộ, đạt tỷ lệ 87,75% (tăng 24,98% so với năm 2011).  Thu nhập bình quân đầu người của các xã năm 2016 đạt 29,31 triệu đồng/người/năm, năm 2017 đạt 32,24 triệu đồng/người/năm, năm 2018 đạt 35,86 triệu đồng/người/năm, tăng 3,04 lần so với năm 2011 (năm 2011 là 11,81 triệu đồng/người/năm). Tổng số lao động trong độ tuổi lao động của các xã là 32.057 người, số lao động có việc làm là 30.852 người, đạt 96,24%; được phân bố trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm khoảng 75,7%, lĩnh vực phi nông nghiệp chiếm khoảng 24,3%.

Năm 2011, tỷ lệ hộ nghèo bình quân trên địa bàn 9 xã là 8,06%. Qua 9 năm triển khai Chương trình xây dựng NTM, bằng việc triển khai đồng bộ các giải pháp như: hỗ trợ phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững thông qua các dự án phát triển sản xuất, tạo điều kiện cho các hộ vay vốn ngân hàng và các nguồn vốn khác; tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật, đào tạo nghề cho lao động nông thôn; thực hiện các chương trình an sinh xã hội (hỗ trợ mua thẻ BHYT, xây nhà cho các đối tượng chính sách,...). Bên cạnh đó, cùng với sự quan tâm hỗ trợ, giúp đỡ của cộng đồng, sự nỗ lực vươn lên của các hộ nghèo đã giải quyết cơ bản những vấn đề bức xúc của hộ nghèo, cận nghèo… Vì vậy, công tác giảm nghèo đã đạt được kết quả quan trọng, tỷ lệ hộ nghèo năm sau thấp hơn năm trước. Hiện tại, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều tại 9 xã (đã trừ các hộ nghèo thuộc diện bảo trợ xã hội) là 213 hộ/12.711 hộ, chiếm tỷ lệ 1,68%.

Công tác giáo dục - đào tạo ở nông thôn được quan tâm, chất lượng giáo dục toàn diện, vững chắc và có bước phát triển. Cơ sở vật chất trường học, trang thiết bị phục vụ dạy và học được tăng cường. Các trường chuẩn quốc gia duy trì, nâng cao chất lượng dạy và học. Tỷ lệ huy động học sinh ra lớp ở các cấp học đạt 100%; 9/9 xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục THCS; 9/9 xã đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2. lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở ở các xã được tiếp tục học trung học phổ thông, bổ túc, học nghề đạt 95,6%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo của 9 xã là 13.900/30.852 lao động, đạt 45,05%. Phát triển y tế cơ sở, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân nông thôn: mạng lưới y tế tiếp tục được củng cố và phát triển. Các trạm y tế xã đã được đầu tư xây dựng, củng cố và nâng cấp, góp phần tích cực vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Cơ sở vật chất phục vụ khám chữa bệnh được tăng cường. Triển khai thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh, công tác y tế dự phòng, vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, các dự án và chương trình MTQG về y tế. Chất lượng chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hóa gia đình được nâng cao. Thực hiện tốt các hoạt động của mô hình, đề án nâng cao chất lượng dân số. Kết quả 9/9 xã đạt tiêu chí Quốc gia về y tế. Tỷ lệ người dân tham gia Bảo hiểm y tế của 9 xã là 44.805/52.501 người, đạt 85,3%, tăng 44,4% so với năm 2011. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể thấp còi của 9 xã chiếm 13,3%.

Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” không ngừng được chú trọng, nâng cao về chất lượng. Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật luôn được quan tâm triển khai thực hiện. Người dân đã tích cực tham gia thực hiện nếp sống văn minh, lành mạnh, chống các tệ nạn xã hội; tích cực hưởng ứng và thực hiện các phong trào: xây dựng “thôn văn hóa”, “gia đình văn hóa”. Đến nay 9/9 xã được công nhận “xã đạt chuẩn văn hóa NTM”, 68/73 thôn, làng được công nhận thôn, làng văn hóa chiếm tỷ lệ 93,15%. Tỷ lệ số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 99,9%; tỷ lệ hộ dân nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh là 87%; tỷ lệ trạm y tế xã có công trình cấp nước và nhà tiêu hợp vệ sinh là 100%; tỷ lệ trường học có công trình cấp nước và nhà tiêu hợp vệ sinh 100%. Các xã đã hình thành tổ, nhóm thu gom, xử lý rác thải; cải tạo nghĩa trang; xây dựng cảnh quan môi trường xanh - sạch - đẹp; thống kê, rà soát các cơ sở, hộ gia đình kinh doanh thực phẩm cam kết đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

Công tác cán bộ - bồi dưỡng cán bộ luôn được thành phố quan tâm và chú trọng. Hàng năm thành phố xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị cho cán bộ, củng cố nguồn nhân lực và hoàn thiện bộ máy các cơ quan, đơn vị, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tổng số cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã là 170/170 người, trong đó 76 cán bộ, 94 công chức. Cán bộ, công chức xã đạt chuẩn theo quy định. 9/9 xã có đủ tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định; các tổ chức chính trị đều được tổ chức từ thành phố đến xã, thôn, làng. Hệ thống tổ chức chính trị luôn được củng cố, kiện toàn, đảm bảo đầy đủ cả số lượng và chất lượng.

Trong những năm qua trên địa bàn 9 xã tình hình an ninh trật tự luôn được giữ vững và ổn định; không xảy ra các hoạt động chống phá; truyền đạo trái pháp luật, khiếu kiện đông người; Không có tụ điểm phức tạp về trật tự xã hội và không phát sinh thêm người mắc các tệ nạn xã hội. Lực lượng dân quân xã được xây dựng bảo đảm chất lượng về chính trị, có số lượng và cơ cấu hợp lý, luôn là lực lượng tại chỗ phối hợp chặt chẽ với Công an xã sẵn sàng thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ Đảng, chính quyền và nhân dân trên địa bàn.

Hoạt động triển khai và ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào lĩnh vực nông nghiệp nông thôn đã mang lại nhiều kết quả nổi bật. Một số dự án đã đem lại hiệu quả thiết thực như: Dự án ứng dụng tiến bộ kỹ thuật sản xuất cà phê theo hướng quản lý dịch hại tổng hợp (ICM); dự án tưới nước tiết kiệm và nâng cao kỹ thuật chăm sóc trong sản xuất tiêu bền vững; dự án trồng dâu tây trong nhà lưới và trồng cà chua ghép trên gốc cà tím kết hợp tưới tiết kiệm; dự án trồng xem cây ăn quả trong vườn cà phê, vườn tiêu nhằm cân bằng sinh thái; dự án thụ tinh nhân tạo bò đã góp phần tăng quy mô đàn và tỷ lệ bò lai của thành phố qua từng năm; dự án ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật sản xuất hoa thương phẩm tại vùng ven thành phố, là những dự án có tính công nghệ cao, bước đầu đưa được công nghệ tiến tiến vào sản xuất./.
Đinh Hoa
 
 
customer-service.png THÔNG TIN LIÊN HỆ:

1478004194_map-icon.png Địa chỉ: 81 Hùng Vương - T
hành phố Pleiku - Gia Lai
1490597482_Phone.png Điện thoại: (0269).3830 155
1478004801_fax-(1).png  Fax: (0269).3828414
1478004004_Mail.png  Email: ubndpleiku@gialai.gov.vn
 
contract-(4).png THÔNG TIN BẢN QUYỀN:

Bản quyền thuộc về UBND thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai
Chịu trách nhiệm chính: 
Giấy phép số: 01/GP-TTĐT ngày 24/02/2015 của Sở Thông tin và Truyền thông
ĐĂNG KÝ NHẬN TIN

   Copyright © 2018 
Trang chủ | Tin tức Liên hệ | Mobile | Site map icontop.png