You have an old version of Adobe's Flash Player. Get the latest Flash player.

 

CHUYÊN MỤC

Giới thiệu chung
Cơ cấu tổ chức
Dự án đầu tư
Quy hoạch - Kế hoạch
Khen thưởng - Xử phạt
Công tác xây dựng Đảng bộ
Báo cáo KT-XH
Công dân - Doanh nghiệp
Bộ thủ tục hành chính công
Thông tin cần biết

 

TP.Pleiku: Phấn đấu năm 2017 giảm 213 hộ nghèo

Ngày đăng bài: 17/03/2017
Trong thời gian qua, công tác giảm nghèo của thành phố luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. Các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của địa phương luôn gắn kết chặt chẽ với thực hiện chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước, gắn với công tác xóa đói, giảm nghèo. Thành phố đã huy động được sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị, các tổ chức và cá nhân trên địa bàn hỗ trợ về vật chất, tinh thần theo chủ trương xã hội hóa trong công tác giảm nghèo.


Hộ nghèo, cận nghèo của thành phố năm 2016 theo tiêu chí tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ có 898 hộ nghèo với 3.673 nhân khẩu, chiếm 1,75% số hộ dân; hộ cận nghèo 548 hộ, với 2.240 nhân khẩu, chiếm tỷ lệ 1,07% số hộ dân trên địa bàn.

Hộ nghèo là người dân tộc thiểu số là 566 hộ, chiếm 8,93% tổng số hộ người dân tộc thiểu số, chiếm 63,02% tổng hộ nghèo thành phố. Hộ cận nghèo dân tộc thiểu số là 167 hộ, chiếm tỷ lệ 2,63% tổng số hộ người dân tộc thiểu số, chiếm 30,47% tổng hộ cận nghèo thành phố. Thành phố có 23 xã, phường, 254 thôn, làng, tổ dân phố (47 thôn, 43 làng, 164 tổ dân phố), trong đó: 01 xã không có hộ nghèo (xã Diên Phú); 02 xã tỷ lệ hộ nghèo trên 7% gồm: Ia Kênh (12,87%, 115 hộ), Chư Ă (8,72%, 173 hộ); 20 xã, phường còn lại tỷ lệ hộ nghèo dưới 7%.

Hộ nghèo được phân tích thành các nhóm đối tượng với số lượng cụ thể như sau: Hộ nghèo thuộc chính sách bảo trợ xã hội: Hộ nghèo nhưng không còn thành viên nào trong hộ có khả năng lao động có 34 hộ, với 70 khẩu chiếm tỷ lệ 3,78% tổng số hộ nghèo; trong đó hộ dân tộc thiểu số chiếm 14 hộ, với 23 khẩu. Hộ nghèo thuộc chính sách ưu đãi người có công là hộ có ít nhất một thành viên trong hộ là đối tượng đang hưởng chính sách ưu đãi người có công: Thành phố không còn hộ nào.

Mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 05 dịch vụ: Y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin được xác định thành 10 tiêu chí, cụ thể thứ tự thiếu hụt từ cao xuống thấp:  Hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh: 617 hộ, chiếm tỷ lệ 68,7%.Chất lượng nhà ở chưa đảm bảo: 433 hộ, chiếm tỷ lệ 48,2%. Bảo hiểm y tế: 411 hộ, chiếm tỷ lệ 45,8%. Diện tích nhà ở bình quân đầu người: 383 hộ, chiếm tỷ lệ 42,7%.Trình độ giáo dục của người lớn: 246 hộ, chiếm tỷ lệ 27,4%. Sử dụng dịch vụ viễn thông: 125 hộ, chiếm tỷ lệ 13,9%. Tình trạng đi học của trẻ em: 117 hộ, chiếm tỷ lệ 13%. Tài sản phục vụ tiếp cận thông tin: 77 hộ, chiếm tỷ lệ 8,6%. Tiếp cận các dịch vụ y tế: 54 hộ, chiếm tỷ lệ 6%. Nguồn nước sinh hoạt: 42 hộ, chiếm tỷ lệ 4,7%.

Trên cơ sở xác định thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản cũng như xác định nguyên nhân các hạn chế trong công tác giảm nghèo, năm 2017, thành phố tiếp tục thực hiện đồng bộ các chính sách của Nhà nước, huy động các nguồn lực đầu tư, hỗ trợ giải quyết các thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản để cải thiện đời sống, tạo điều kiện cho hộ nghèo vươn lên, thoát nghèo bền vững, hạn chế thấp nhất tình trạng tái nghèo. Ưu tiên đầu tư, hỗ trợ các xã, phường khó khăn, có tỷ lệ hộ nghèo cao trên 7%, hộ nghèo là người dân tộc thiểu số và hộ nghèo có thành viên là đối tượng bảo trợ xã hội, duy trì không có hộ nghèo là người có công với cách mạng.

Phấn đấu số hộ nghèo giảm từ 898 hộ còn 685 hộ (giảm 213 hộ, trong đó có 149 hộ dân tộc thiểu số); tỷ lệ hộ nghèo của thành phố từ 1,75% còn  1,33% vào cuối năm 2017. Phấn đấu giảm số hộ cận nghèo từ 548 hộ còn 460 hộ (giảm 88 hộ, trong đó có 21 hộ dân tộc thiểu số), giảm tỷ lệ hộ cận nghèo của thành phố từ 1,07% còn dưới 0,89% vào cuối năm 2017.

Các cơ quan, đơn vị, UBND các xã, phường thành phố tập trung thực hiện nhóm giải pháp thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước đối với hộ nghèo, cận nghèo, hỗ trợ của địa phương và cộng đồng dân cư. Trong đó quan tâm đến việc thực hiện chính sách tín dụng đối với hộ nghèo, cận nghèo. Giải quyết cho 100% hộ nghèo, cận nghèo có nhu cầu vay vốn được vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội để sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ. Thực hiện tốt công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm gắn với chương trình cho vay giải quyết việc làm cho người lao động, ưu tiên cho nhóm hộ nghèo, cận nghèo. Ưu tiên giải quyết đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” cho người nghèo, người cận nghèo đối với các xã.

 Tăng cường vận động xây dựng Quỹ “Ngày vì người nghèo” để bổ sung nguồn lực hỗ trợ cho Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo. Khuyến khích, tạo điều kiện để các doanh nghiệp, tổ chức, cộng đồng dân cư tham gia hỗ trợ các đối tượng người nghèo, cận nghèo về vật chất, tinh thần để người nghèo có điều kiện vươn lên thoát nghèo, đặc biệt đối với các hộ nghèo thuộc chính sách bảo trợ xã hội.Ngoài nguồn lực từ ngân sách Nhà nước, tranh thủ huy động các nguồn lực từ cộng đồng xã hội, đoàn thể, các doanh nghiệp, người dân hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính trong công tác giảm nghèo, an sinh xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo nhằm góp phần hỗ trợ cho các hộ nghèo có điều kiện thoát nghèo bền vững.

T.Hiền
 
 
 
 
 
 
Trang chủ     |     Tin tức     |     Liên hệ     |     Mobile     |     Site map

Copyright © 2013 Bản quyền thuộc về UBND TP Pleiku
Chịu trách nhiệm chính: ...  
Địa chỉ: 81 Hùng Vương, phường Tây Sơn, TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai - Điện thoại:0593 830 155  - Fax: 059. 3828 414 - Email: vpubpleiku@gmail.com
Giấy phép số: 01/GP-TTĐT ngày 24/02/2015 của Sở Thông tin và Truyền thông Gia Lai.
Phát triển bởi Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Gia Lai