You have an old version of Adobe's Flash Player. Get the latest Flash player.

 

CHUYÊN MỤC

Giới thiệu chung
Cơ cấu tổ chức
Dự án đầu tư
Quy hoạch - Kế hoạch
Khen thưởng - Xử phạt
Công tác xây dựng Đảng bộ
Báo cáo KT-XH
Công dân - Doanh nghiệp
Bộ thủ tục hành chính công
Thông tin cần biết

 

Phân biệt giữa quy định về chất vấn (Điều 69) và về giải trình (Điều 72) của Thường trực HĐND theo Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND

Ngày đăng bài: 01/11/2017
Điều 69. Chất vấn và xem xét trả lời chất vấn tại phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân trong thời gian giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân

Điều 72. Giải trình tại phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân


Trước hết là các khái niệm của “chất vấn” và “giải trình” theo quy định pháp luật. Khái niệm về Chất vấn và giải trình được giải thích tại khoản 7 và khoản 8 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân:

- khoản 7: Chất vấn là việc đại biểu Quốc hội nêu vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước; đại biểu Hội đồng nhân dân nêu vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp và yêu cầu những người này trả lời về trách nhiệm của mình đối với vấn đề được nêu.

- khoản 8: Giải trình là việc cơ quan, cá nhân hữu quan giải thích, làm rõ trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo yêu cầu của chủ thể giám sát quy định tại Luật này.

Và chủ thể giám sát được quy định tại khoản 2 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân:
2. Chủ thể giám sát bao gồm Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân.

Ta có thể thấy “chất vấn” hay “ giải trình”  đều là một trong những hình thức giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân đươc quy định tại điều 66 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, tuy nhiên giữa hai điều luật này vẫn có nhiều điểm khác biệt nhau.

Ở bài viết này dưới góc độ cá nhân thấy được một số điểm khác biệt cụ thể giữa quy định chất vấn và giải trình tại phiên họp Thường trực HĐND như sau

1. Điểm khác biệt về chủ thể giám sát và đối tượng bị giám sát

- Theo quy định tại Điều 69: Chủ thể giám sát là đại biểu Hội đồng nhân dân và đối tượng bị giám sát là cá nhân như: Chủ tịch Ủy ban nhân dân, thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp.

- Theo quy định tại Điều 72: Chủ thể giám sát là Thường trực Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân và đối tượng bị giám sát là cơ quan, cá nhân.

Như vậy theo các quy định trên ta có thể thấy là Chất vấn là quyền của đại biểu Hội đồng nhân dân yêu cầu những cá nhân (Chủ tịch Ủy ban nhân dân, thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp) chịu sự giám sát trả lời về trách nhiệm của mình đối với vấn đề được nêu. Giải trình là việc Thường trực Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân yêu cầu cơ quan, cá nhân hữu quan giải thích, làm rõ trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

2. Điểm khác biệt về căn cứ tiến hành:

- Điều 69: Căn cứ vào chương trình phiên họp, ý kiến, kiến nghị của cử tri, vấn đề xã hội quan tâm và phiếu chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân gửi, Thường trực Hội đồng nhân dân sẽ quyết định nhóm vấn đề chất vấn, người bị chất vấn, thời gian chất vấn.

- Điều 72: Căn cứ vào chương trình giám sát, Thường trực Hội đồng nhân dân yêu cầu thành viên Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp giải trình và cá nhân có liên quan tham gia giải trình vấn đề mà Thường trực Hội đồng nhân dân quan tâm.

Thường trực Hội đồng nhân dân quyết định việc tổ chức giải trình, nội dung, kế hoạch tổ chức và người được yêu cầu giải trình.

Như vậy ta có thể hiểu phiên họp giải trình hay chất vấn đều do Thường trực HĐND quyết định nhưng điểm khác biệt nhau là căn cứ để tổ chức các phiên họp  khác nhau:

- Phiên họp chất vấn là: Thường trực HĐND căn cứ vào chương trình phiên họp, ý kiến, kiến nghị của cử tri, vấn đề xã hội quan tâm và phiếu chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân gửi sẽ quyết định nhóm vấn đề chất vấn, người bị chất vấn, thời gian chất vấn.

- Phiên họp giải trình là: Thường trực Hội đồng nhân dân căn cứ vào chương trình giám sát, quyết định việc tổ chức giải trình, nội dung, kế hoạch tổ chức và người được yêu cầu giải trình để làm rõ những nội dung mà Thường trực Hội đồng nhân dân quan tâm.

3. Điểm khác biệt về hình thức thực hiện:

- Chất vấn có 2 hình thức trả lời: trực tiếp và bằng văn bản (03 trường hợp trả lời bằng văn bản gồm: Chất vấn không thuộc nhóm vấn đề chất vấn tại phiên họp; vấn đề chất vấn cần điều tra, xác minh; chất vấn thuộc nhóm vấn đề chất vấn tại phiên họp nhưng chưa được trả lời tại phiên họp).

-  Giải trình chỉ giải trình trực tiếp.

4. Điểm khác biệt về trình tự thực hiện:

- Phiên họp chất vấn được tiến hành theo trình tự các bước:

+ Đại biểu Hội đồng nhân dân nêu vấn đề chất vấn;

+ Người bị chất vấn phải trả lời trực tiếp hoặc bằng văn bản;

+ Trường hợp đại biểu Hội đồng nhân dân không đồng ý có quyền chất vấn lại.

- Phiên họp giải trình được tiến hành theo trình tự các bước:

+ Chủ tọa nêu nội dung, yêu cầu giải trình, người có trách nhiệm giải trình;

+ Thành viên Thường trực Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân tham dự nêu yêu cầu giải trình;

+ Người giải trình có trách nhiệm giải trình vấn đề được yêu cầu;

+ Đại diện cơ quan, tổ chức được mời tham dự phân giải trình phát biểu ý kiến;

+ Chủ tọa tóm tắt nội dung giải trình, dự kiến kết luận vấn đề được giải trình.

+ Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét, thông qua kết luận vấn đề được giải trình (kết luận được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên Thường trực Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành).

5. Điểm khác biệt về kết quả:

- Trong phiên họp chất vấn đại biểu Hội đồng nhân dân có thể đồng ý hoặc không đồng ý với kết quả trả lời chất vấn.
+ Trả lời chất vấn trực tiếp nếu không đồng ý thì tiếp tục chất vấn lại.

+ Trả lời bằng văn bản: Sau khi nhận được văn bản trả lời chất vấn, nếu đại biểu Hội đồng nhân dân không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Thường trực Hội đồng nhân dân đưa ra thảo luận tại phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân hoặc kiến nghị Thường  trực Hội đồng nhân dân, Hội đồng nhân dân xem xét trách nhiệm đối với người bị chất vấn).

- Trong phiên họp giải trình: Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét, thông qua kết luận vấn đề được giải trình; kết luận được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên Thường trực Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành. Ta có thể thấy kết quả của phiên họp giải trình là Kết luận của tập thể Thường trực Hội đồng nhân dân.  

Kết luận của Thường trực Hội đồng nhân dân được gửi đến đại biểu Hội đồng nhân dân, người được yêu cầu giải trình và cơ quan, tổ chức có liên quan.

Cơ quan, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thực hiện kết luận của Thường trực Hội đồng nhân dân; trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì Thường trực Hội đồng nhân dân báo cáo Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định.

Ngoài ra còn có một số quy định khác như:

Nội dung, kế hoạch tổ chức giải trình được thông báo cho cá nhân được yêu cầu giải trình chậm nhất 10 ngày trước khi tiến hành giải trình. Riêng nội dung chất vấn Luật chưa quy định thời gian gửi cho cá nhân được yêu cầu chất vấn.

Phiên giải trình được tiến hành công khai, trừ trường hợp do Thường trực HĐND quyết định. Riêng nội dung chất vấn Luật chưa quy định hình thức tổ chức cụ thể.
Tường Linh
Trang chủ     |     Tin tức     |     Liên hệ     |     Mobile     |     Site map

Copyright © 2013 Bản quyền thuộc về UBND TP Pleiku
Chịu trách nhiệm chính: ...  
Địa chỉ: 81 Hùng Vương, phường Tây Sơn, TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai - Điện thoại:0269.3830 155  - Fax: 0269. 3828 414 - Email: vpubpleiku@gmail.com
Giấy phép số: 01/GP-TTĐT ngày 24/02/2015 của Sở Thông tin và Truyền thông Gia Lai.
Phát triển bởi Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Gia Lai