You have an old version of Adobe's Flash Player. Get the latest Flash player.

 

CHUYÊN MỤC

Giới thiệu chung
Cơ cấu tổ chức
Dự án đầu tư
Thông tin đấu thầu, mua sắm công
Quy hoạch - Kế hoạch
Công tác xây dựng Đảng bộ
Công tác phòng chống tham nhũng
Báo cáo KT-XH
Công dân - Doanh nghiệp
Bộ thủ tục hành chính công
Thông tin cần biết
ISO 9001:2008
Văn bản khác

 

Về quy định ủy quyền đăng ký hộ tịch

Ngày đăng bài: 04/10/2018
Theo quy định của pháp luật về hộ tịch, Người yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch, yêu cầu đăng ký các việc hộ tịch như khai sinh, giám hộ, khai tử, thay đổi cải chính hộ tịch… được uỷ quyền cho người khác thực hiện thay, trừ trường hợp đăng ký kết hôn, đăng ký lại việc kết hôn, đăng ký nhận cha, mẹ, con. Việc ủy quyền là để đảm bảo các yêu cầu đăng ký hộ tịch có liên quan đến nhân thân người đó phải do chính người có quyền và nghĩa vụ thực hiện, tuy nhiên trong thực tiễn thực hiện quy định này phát sinh nhiều vấn đề vướng mắc, bất cập, gây khó khăn cho việc thực thi pháp luật ở cơ sở.


Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Luật Hộ tịch, xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết. Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư.Tại Điều 6 Luật Hộ tịch quy định: “Công dân Việt Nam, người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam có quyền và nghĩa vụ đăng ký hộ tịch”. Trừ trường hợp đăng ký kết hôn, nhận cha, mẹ, con thì các bên phải trực tiếp thực hiện tại cơ quan đăng ký hộ tịch, còn đối với các việc đăng ký hộ tịch khác như khai sinh, khai tử, đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch… hoặc cấp bản sao trích lục hộ tịch thì người có yêu cầu có thể trực tiếp thực hiện hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện.

Theo quy định tại Điều 2 Thông tư 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch thì người yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch, yêu cầu đăng ký các việc hộ tịch theo quy định tại Điều 3 của Luật hộ tịch được uỷ quyền cho người khác thực hiện thay, trừ trường hợp đăng ký kết hôn, đăng ký lại việc kết hôn, đăng ký nhận cha, mẹ, con, theo đó việc ủy quyền được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều này như sau:

“Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật; phạm vi uỷ quyền có thể gồm toàn bộ công việc theo trình tự, thủ tục đăng ký hộ tịch từ khi nộp hồ sơ đến khi nhận kết quả đăng ký hộ tịch.

Trường hợp người được ủy quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền thì văn bản ủy quyền không phải công chứng, chứng thực, nhưng phải có giấy tờ chứng minh mối quan hệ với người uỷ quyền”.

Việc ủy quyền chỉ xảy ra khi người có quyền yêu cầu đăng ký hộ tịch không thể có mặt tại cơ quan có thẩm quyền để đăng ký hộ tịch được, nên ủy quyền cho người khác.

Trong trường hợp người được ủy quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền thì văn bản ủy quyền không phải công chứng, chứng thực (nhưng phải có giấy tờ chứng minh mối quan hệ với người ủy quyền) thì nếu người ủy quyền không ký vào văn bản ủy quyền trước mặt cán bộ tư pháp hộ tịch thì không có cơ sở nào để biết chữ ký trên văn bản là của người ủy quyền, thể hiện đúng ý chí của người ủy quyền, chứ không phải do người được ủy quyền hay người khác tự ký vào văn bản đó.

 Để chắc chắn đó là chữ ký của người ủy quyền, tức là người có quyền yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch, thì người ủy quyền phải ký trước mặt công chức tư pháp hộ tịch hoặc phải chứng thực chữ ký theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 2 Thông tư 15/2015/TT-BTP quy định văn bản ủy quyền không phải công chứng chứng thực, còn nếu yêu cầu người ủy quyền phải có mặt tại cơ quan có thẩm quyền và ký trước mặt công chức tư pháp hộ tịch thì việc ủy quyền đăng ký hộ tịch không có ý nghĩa gì nữa.

Tuy nhiên, hộ tịch là những sự kiện xác định tình trạng nhân thân của cá nhân, không thể tùy tiện để cho một người yêu cầu đăng ký hộ tịch cho người khác được, cho dù có là ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em ruột…  Cho nên trong trường hợp người có quyền yêu cầu đăng ký hộ tịch muốn để người khác nhân danh mình đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký các sự kiện hộ tịch thì cần phải có văn bản ủy quyền để thể hiện chính xác ý chí của người có quyền yêu cầu đăng ký hộ tịch. Việc ủy quyền nên được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật, việc ủy quyền đăng ký hộ tịch cũng không thuộc những trường hợp không được chứng thực chữ ký theo quy định tại Điều 25 Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/2/2015 của Chính phủ quy định về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng giao dịch, nên văn bản ủy quyền đăng ký hộ tịch cũng có thể được chúng thực chữ ký. Thủ tục chứng thực hợp đồng, chứng thực chữ ký theo Nghị định 23/2015/NĐ-CP cũng không quá phức tạp. Việc quy định quá “mở” như Thông tư 15/2015/TT-BTP có vẻ như tạo ra sự “thông thoáng” trong thủ tục đăng ký hộ tịch ở cơ sở nhưng thực tế là có nhiều vấn đề vướng mắc, bất cập trong quá trình áp dụng quy định về ủy quyền đăng ký hộ tịch theo Thông tư 15/2015/TT-BTP ở cơ sở.
 
Ngọc Huyền
Phòng Tư pháp thành phố Pleiku
Trang chủ     |     Tin tức     |     Liên hệ     |     Mobile     |     Site map

Copyright © 2013 Bản quyền thuộc về UBND TP Pleiku
Chịu trách nhiệm chính: ...  
Địa chỉ: 81 Hùng Vương, phường Tây Sơn, TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai - Điện thoại:0269.3830 155  - Fax: 0269. 3828 414 - Email: vpubpleiku@gmail.com
Giấy phép số: 01/GP-TTĐT ngày 24/02/2015 của Sở Thông tin và Truyền thông Gia Lai.
Phát triển bởi Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Gia Lai