You have an old version of Adobe's Flash Player. Get the latest Flash player.

 

CHUYÊN MỤC

Giới thiệu chung
Cơ cấu tổ chức
Dự án đầu tư
Quy hoạch - Kế hoạch
Khen thưởng - Xử phạt
Công tác xây dựng Đảng bộ
Báo cáo KT-XH
Công dân - Doanh nghiệp
Bộ thủ tục hành chính công
Thông tin cần biết

 

Tình hình thực hiện nhiệm vụ về công tác tư pháp trên địa bàn thành phố Pleiku

Ngày đăng bài: 31/08/2017
Công tác tư pháp ở địa phương là nơi trực tiếp tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền địa phương đưa các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đến với nhân dân, vì vậy Thông tư liên tịch 23/2014/TTLT-BTP-BNV với các quy định ngày càng mở rộng hơn chức năng, nhiệm vụ của ngành Tư pháp, tăng cường trên các lĩnh vực xây dựng, tổ chức thực hiện pháp luật và quản lý các lĩnh vực hoạt động tư pháp là cơ sở pháp lý rất quan trọng trong việc thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực tư pháp trên địa bàn thành phố.


Thông tư 23/2014/TTLT-BTP-BNV có hiệu lực từ ngày 15/02/2015, thay thế Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV ngày 28/4/2009 của Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện và công tác tư pháp của Ủy ban nhân dân cấp xã, với các quy định ngày càng mở rộng hơn chức năng, nhiệm vụ của ngành Tư pháp, tăng cường trên các lĩnh vực xây dựng, tổ chức thực hiện pháp luật và quản lý các lĩnh vực hoạt động tư pháp. 

Trên cơ sở kế thừa quy định của Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV  và bổ sung các nhiệm vụ quyền hạn mới trên cơ sở rà soát, hệ thống hóa đầy đủ các quy định về trách nhiệm của Sở Tư pháp và Phòng Tư pháp trên các lĩnh vực xây dựng, thi hành pháp luật và quản lý các lĩnh vực công tác tư pháp như: Luật Phổ biến giáo dục pháp luật, Luật Hòa giải cơ sở, Luật Hộ tịch, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg ngày 24/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy định về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở… Thông tư 23/2014/TTLT-BTP-BNV quy định cụ thể chức năng nhiệm vụ của Sở Tư pháp và Phòng Tư pháp góp phần quan trọng trong việc thực hiện công tác tư pháp ở địa phương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong các lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của ngành tư pháp, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành theo pháp luật, khẳng định vị trí, vai trò công tác tư pháp trong đời sống chính trị, kinh tế - xã hội, từng bước tạo được niềm tin đối với cấp ủy, chính quyền và của nhân dân.

Tuy nhiên, qua gần 3 năm triển khai thực hiện Thông tư 23/2014TTLT-BTP-BNV trên địa bàn thành phố, Thông tư 23/2014/BTP-BNV cũng dần bộc lộ những hạn chế nhất định, dẫn đến những khó khăn, vướng mắc trong triển khai, thực hiện công tác tư pháp tại địa phương:

Quy định về công tác tư pháp cấp xã:

Đối với công tác Tư pháp ở cấp xã, nếu Thông tư 01/2009/TTLT-BTP-BNV quy định cụ thể về công tác Tư pháp của UBND cấp xã với 12 chức năng, nhiệm vụ và quy định cụ thể về nhiệm vụ của công chức Tư pháp- Hộ tịch: “Ở cấp xã có công chức Tư pháp - Hộ tịch tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn tại Điều 7 của Thông tư liên tịch này”, tuy nhiên Thông tư 23/2014/TTLT-BTP-BNV không quy định về công tác tư pháp của UBND cấp xã, cũng không có quy định nào về việc nhiệm vụ tham mưu của công chức Tư pháp- Hộ tịch như: “ công chức Tư pháp- Hộ tịch có trách nhiệm tham mưu cho UBND cấp xã thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực Tư pháp”.

Đối với chính quyền cấp xã, công tác Tư pháp là một bộ phận của công tác quản lý nhà nước, đồng thời là nơi triển khai trên thực tế các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác tư pháp, bảo đảm sự thống nhất quản lý nhà nước về công tác tư pháp từ Trung ương đến cơ sở, tuy nhiên Thông tư 23/2014/TTLT-BTP-BNV gần như “bỏ qua” công tác Tư pháp của UBND cấp xã và chức năng, nhiệm vụ của công chức Tư pháp - Hộ tịch.

Một số ý kiến cho rằng, Thông tư 23/2014/TTLT-BTP-BNV không quy định trực tiếp về công tác Tư pháp cấp xã mà gián tiếp quy định chức năng, nhiệm vụ của UBND cấp xã trong công tác tư pháp thông qua việc bổ sung và giao trách nhiệm cụ thể cho Ủy ban nhân dân cấp huyện trong việc chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn, nghiệp vụ công tác tư pháp của UBND cấp xã tại khoản 2, Điều 8: “Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra về chuyên môn, nghiệp vụ các công việc sau đây của tư pháp cấp xã” là không hợp lý. Vì:

Một là, Thông tư 23/2014/TTLT-BTP-BNV không quy định trong lĩnh vực tư pháp UBND cấp xã có nhiệm vụ quyền hạn gì, nhưng lại quy định UBND cấp huyện có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các “công việc của tư pháp cấp xã”, tư pháp cấp xã được quy định trong Thông tư 23/2014/TTLT-BTP-BNV cũng không làm rõ đối tượng kiểm tra, cụ thể là UBND cấp xã trong việc quản lý nhà nước trong lĩnh vực tư pháp hay kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của Công chức Tư pháp- Hộ tịch cấp xã.

Hai là, không thể lẫn lộn giữa việc quy định chức năng nhiệm vụ của một cấp hành chính trong lĩnh vực tư pháp và việc quy định về thẩm quyền chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn trong lĩnh vực này của cấp hành chính khác.

Mặt khác, theo quy định tại khoản 1, Điều 69 Luật Hộ tịch quy định: UBND cấp tỉnh thực hiện hướng dẫn, chỉ đạo việc tổ chực hiện công tác đăng ký quản lý hộ tịch, và Sở Tư pháp có trách nhiệm giúp UBND tỉnh thực hiện nhiệm vụ này. Tại khoản 12, Điều 13, Thông tư 23/2014/TTLT-BTP-BNV cũng quy định là Sở Tư pháp có trách nhiệm “Chỉ đạo, hướng dẫn việc tổ chức thực hiện công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, quốc tịch tại địa phương”. Đối với công tác quản lý và đăng ký hộ tịch, trong Luật Hộ tịch và tại Điều 5, Thông tư 23/2014/TTLT-BTP-BNV về nhiệm vụ quyền hạn của Phòng Tư pháp không quy định UBND cấp huyện và Phòng Tư pháp có trách nhiệm hướng dẫn việc tổ chức thực hiện công tác đăng ký và quản lý hộ tịch cho UBND cấp xã. Vì vậy, khoản 2, Điều 8 Thông tư 23/2014/TTLT-BTP-BNV quy định: “Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra về chuyên môn, nghiệp vụ các công việc sau đây của tư pháp cấp xã”, trong đó có cả quản lý, đăng ký hộ tịch (điểm g, khoản 2 Điều 8) là không đảm bảo tính thống nhất trong các quy định tại Thông tư 23/2014/TTLT/BTP-BNV và Luật Hộ tịch.

Về vị trí, chức năng của Phòng Tư pháp:

Vị trí, chức năng của Sở Tư pháp và Phòng Tư pháp được quy định trong Thông tư 23/2014/TTLT-BTP-BNV trên cơ sở Nghị định 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố, trực thuộc trung ương và Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh. Đối với vị trí chức năng của Sở Tư pháp thì được quy định cụ thể tại Điều 1 của Thông tư 23/2014/TTLT-BTP-BNV là “ có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng” phù hợp với nhiệm vụ và quyền hạn của Sở Tư pháp tại khoản 30, 31 Điều 2 Thông Tư 23/2014/TTLT-BTP-BNV về quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính, tài sản được giao theo quy định, quản lý tổ chức bộ máy, biên chế công chức, thực hiện chế độ tiền lương và chính sách chế độ đãi ngộ đối với cán bộ công chức thuộc phạm vi quản lý của Sở Tư pháp theo quy định. Tuy nhiên, quy định về vị trí, chức năng của Phòng Tư pháp cấp huyện lại không quy định về “tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng” không đảm bảo phù hợp với nhiệm vụ quyền hạn quy định  tại khoản 24, 25 Điều 5 của Thông tư 23/2014/TTLT-BTP-BNV: Phòng Tư pháp có quyền quản lý tổ chức bộ máy, vị trí việc làm, biên chế công chức, thực hiện chế độ tiền lương và chính sách chế độ đãi ngộ đối với công chức thuộc phạm vi quản lý của Phòng Tư pháp, quản lý và chịu trách nhiệm về tài sản và tài chính của Phòng Tư pháp theo quy định của pháp luật.

Về quy định tổ chức và biên chế của Phòng Tư pháp:

Tại điểm b, khoản 1 Điều 3 Thông tư 23/2014/TTLT-BTP-BNV quy định: Giám đốc Sở là người chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và trước pháp luật về việc chỉ đạo chuyên môn, nghiệp vụ đối với Phòng Tư pháp cấp huyện và công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã trên địa bàn. Tại khoản 4, Điều 5 Thông tư 23/2014/TTLT-BTP-BNV cũng quy định Phòng Tư pháp có nhiệm vụ chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn nghiệp vụ về công tác tư pháp ở cấp xã.

Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 4 Điều 46 Nghị định 112/2011/NĐ-CP về công chức xã, phường, thị trấn quy định: UBND cấp xã có quyền trực tiếp quản lý và sử dụng công chức cấp xã; nhận xét, đánh giá hàng năm đối với công chức cấp xã;

Như vậy, cả Giám đốc Sở Tư pháp và Trưởng Phòng Tư pháp đều phải chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp về về việc chỉ đạo chuyên môn, nghiệp vụ đối với công tác tư pháp ở cấp xã. Tuy nhiên, cán bộ Tư pháp – Hộ tịch là công chức cấp xã và do UBND cấp xã trực tiếp quản lý và sử dụng, nhưng tại  điểm a, khoản 1, Điều 6 Thông tư 23/2014/TTLT-BNV-BTP quy định: Trưởng Phòng Tư pháp chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã trên địa bàn là chưa phù hợp.
 
Vì vậy, để khắc phục những tồn tại nói trên, cần phải có những sửa đổi đối với văn bản quy định về chức năng nhiệm vụ của ngành Tư pháp ở địa phương cho phù hợp, bảo đảm sự thống nhất trong quản lý nhà nước về công tác tư pháp từ Trung ương đến cơ sở:

1. Ủy ban nhân dân cấp xã là cơ quan hành chính nhà nước cấp cơ sở trong hệ thống chính quyền của Nhà nước, có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, là nơi trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, an ninh quốc phòng, kinh tế, văn hoá, xã hội... ở địa phương, bảo đảm cho các đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật đi vào cuộc sống. Đối với chính quyền cấp xã, công tác Tư pháp là một bộ phận của công tác quản lý nhà nước, và các hoạt động quản lý nhà nước về công tác tư pháp cấp xã không chỉ mang tính hành chính - tư pháp mà còn mang tính chất xã hội rộng lớn do có sự tham gia trực tiếp của nhân dân địa phương. Công chức Tư pháp Hộ tịch xã, phường là cán bộ Tư pháp cơ sở, là lực lượng đảm bảo cho bảo đảm sự thống nhất trong quản lý nhà nước về công tác tư pháp từ Trung ương đến cơ sở, vì vậy đối với văn bản quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ của ngành Tư pháp ở địa phương cần bổ sung quy định về nhiệm vụ của công tác tư pháp của UBND cấp xã, quy định trách nhiệm tham mưu của cán bộ Tư pháp-Hộ tịch xã phường để làm rõ vị trí, vai trò của lực lượng rất quan trọng trong hệ thống cán bộ công chức ngành Tư pháp.

2. Về vị trí và chức năng của Phòng Tư pháp cấp huyện, đề nghị bổ sung quy định cụ thể về “ Phòng Tư pháp có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng” đảm bảo phù hợp với nhiệm vụ và quyền hạn về quản lý tổ chức bộ máy, vị trí việc làm, biên chế công chức, thực hiện chế độ tiền lương và chính sách chế độ đãi ngộ đối với công chức thuộc phạm vi quản lý của Phòng Tư pháp, quản lý và chịu trách nhiệm về tài sản và tài chính của Phòng Tư pháp theo quy định của pháp luật.

3. Về quản lý và chịu trách nhiệm đối với công chức Tư pháp-Hộ tịch xã phường, để đảm bảo phù hợp giữa chức năng chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn nghiệp về công tác tư pháp ở cấp xã của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, đảm bảo phù hợp về thẩm quyền trực tiếp quản lý công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, thì đề nghị sửa đổi quy định:  “Trưởng phòng chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao và toàn bộ hoạt động của Phòng và công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã trên địa bàn” thành “ Trưởng phòng chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao và toàn bộ hoạt động của Phòng và việc chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ đối với công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã trên địa bàn”.       
 
Với những hạn chế như trên, việc sửa đổi, bổ sung văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ của ngành Tư pháp ở địa phương là cần thiết, trước hết là để khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong Thông tư 23/2014/TTLT-BTP-BNV, ngoài ra còn để phù hợp với những quy định mới của Chính phủ về chức năng nhiệm vụ của cơ quan tư pháp tại Nghị quyết 49/NQ-CP ngày 13/6/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều có liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, cải cách thủ tục hành chính và cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại một số Nghị quyết của chính phủ, và Nghị định 92/2017/ NĐ-CP ngày 07/8/2017 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính.
Ngọc Huyền
Phòng Tư pháp TP Pleiku
 
 
 
Trang chủ     |     Tin tức     |     Liên hệ     |     Mobile     |     Site map

Copyright © 2013 Bản quyền thuộc về UBND TP Pleiku
Chịu trách nhiệm chính: ...  
Địa chỉ: 81 Hùng Vương, phường Tây Sơn, TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai - Điện thoại:0593 830 155  - Fax: 059. 3828 414 - Email: vpubpleiku@gmail.com
Giấy phép số: 01/GP-TTĐT ngày 24/02/2015 của Sở Thông tin và Truyền thông Gia Lai.
Phát triển bởi Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Gia Lai